Categotry Archives: Kinh Thánh và các sự kiện khác

0

Tìm hiểu dân tộc Palestine và Israel qua kinh thánh

by

Tìm hiểu dân tộc Palestine và sự xung đột hiện nay qua kinh thánh

Một dân tộc nào mà lại ngang nhiên tồn tại trong đất Israel, Palestine và Israel ngày nay giống như bào thai có song thai, trong đó Israel là bào thai và phần đất Palestine ở bờ tây và dải Gaza là song thai.

Kinh thánh ghi ông tổ người Israel có người anh song sinh là Ê-sau sau được đổi tên là Ê-đôm:

“20 Vả, khi Y-sác được bốn mươi tuổi, thì cưới Rê-be-ca, con gái của Bê-tu-ên và em gái của La-ban, đều là dân A-ram, ở tại xứ Pha-đan -A-ram.
21 Y-sác khẩn cầu Đức Giê-hô-va cho vợ mình, vì nàng son sẻ. Đức Giê-hô-va cảm động lời khẩn cầu đó, nên cho Rê-be-ca thọ thai.
22 Nhưng vì thai đôi làm cho đụng nhau trong bụng, thì nàng nói rằng: Nếu quả thật vậy, cớ sao đều nầy xảy đến làm chi? Đoạn nàng đi hỏi Đức Giê-hô-va.
23 Đức Giê-hô-va phán rằng: Hai nước hiện ở trong bụng ngươi, và hai thứ dân sẽ do lòng ngươi mà ra; dân nầy mạnh hơn dân kia, và đứa lớn phải phục đứa nhỏ.
24 Đến ngày nàng phải sanh nở, nầy hai đứa sanh đôi trong bụng nàng ra.
25 Đứa ra trước đỏ hồng, lông cùng mình như một áo tơi lông; đặt tên là Ê-sau.

26 Kế em nó lại ra sau, tay nắm lấy gót Ê-sau; nên đặt tên là Gia-cốp. Khi sanh hai đứa con nầy thì Y-sác đã được sáu mươi tuổi.”
Sáng-thế-ký 25:20-26

Sự kiện cuộc chiến 6 ngày năm 1967 người Israel đã chiếm được vùng đất trên trong ấy có người Palestine,
Làm sao biết người Palestine chính là người anh em song sinh với người Israel, Kinh thánh mô tả sự kiện 1967 như sau:
“11 Trong ngày đó, ta sẽ dựng lại nhà tạm của Đa-vít, là nhà đã đổ, và tu bổ lại những chỗ rách nát của nó. Ta sẽ dựng lại những nơi đổ nát và xây nó lại như ngày xưa; 12 đến nỗi chúng nó sẽ thâu được những dân sót của Ê-đôm và hết thảy các nước được xưng bởi danh ta, Đức Giê-hô-va là Đấng làm trọn mọi điều ấy phán vậy.

13 Đức Giê-hô-va phán: Nầy, những ngày đến, kẻ cày sẽ theo kịp kẻ gặt, kẻ đạp nho theo kịp kẻ gieo giống. Các núi sẽ nhỏ rượu ngọt ra và mọi đồi sẽ tan chảy.

14 Ta sẽ đem phu tù của dân Y-sơ-ra-ên ta trở về; chúng nó sẽ lập lại các thành bị phá, và ở đó. Chúng nó sẽ trồng vườn nho và uống rượu nó, sẽ cày cấy vườn mình và ăn trái nó.

15 Ta sẽ lại trồng chúng nó trên đất chúng nó, và chúng nó sẽ không hề bị nhổ khỏi đất mình mà ta đã ban cho, Đức Giê-hô-va là Đức Chúa Trời ngươi phán vậy.”
A-mốt 9: 11-15
Làm sao biết phần kinh thánh  A-mốt 9: 11-15 nói về sự kiện năm 1967
Vì phần kinh thánh này nói về lập lại nhà Đa-vít mà Đa-vít là vua lập nước Israel theo Ý Đức Chúa Trời, nước Israel đã bị người A-si-ri (tức phần đất I-rắc  ngày nay) nhổ vào thế kỷ thứ 7 trước Công Nguyên, trong thế kỷ thứ nhất là nhà nước Juda tức Do Thái chỉ là 1/12 của Israel, do vậy năm 1948 lập nhà nước Israel tức gần 27 thế kỷ nhà nước Israel lại xuất hiện và lần này có lời hứa họ Israel không bị nhổ khỏi đất họ nữa, và phần kinh thánh trên mô tả người Israel có thâu được dân sót của Ê-đôm.

Phần kinh thánh mô tả người Ê-đôm dựng lại nước:
“2 Đức Giê-hô-va có phán: Ta yêu các ngươi; và các ngươi nói rằng: Chúa yêu chúng tôi ở đâu? Đức Giê-hô-va phán: Ê-sau há chẳng phải là anh Gia-cốp sao? 3 Nhưng ta yêu Gia-cốp, mà ghét Ê-sau, ta làm cho những núi nó nên hoang vu, và phó sản nghiệp nó cho những chó nơi đồng vắng.
4 Nếu Ê-đôm nói rằng: Chúng ta đã bị hủy diệt, song chúng ta sẽ trở về dựng lại những nơi đổ nát, thì Đức Giê-hô-va vạn quân cũng phán rằng: Chúng nó sẽ dựng lại, nhưng ta sẽ đổ xuống, người ta sẽ gọi chúng nó là Cõi độc ác, và là dân mà Đức Giê-hô-va nổi giận nghịch cùng đời đời. ”

(Ma-la-chi: 2-4)
Đức Giê-hô-va có phán: “Chúng nó sẽ dựng lại” chúng nó tức dân tộc Ê-đôm
Kết luận: Dân Palestine ngày nay chính là anh em song sinh với người Israel
Phần tiên tri nói về sự xung đột hiện nay: 1 Bởi Y-sác đã già, mắt làng chẳng thấy được nữa, bèn gọi Ê-sau, con trưởng nam, mà rằng: Hỡi con! Ê-sau thưa rằng: Có con đây. 2Người bèn nói rằng: Nầy, cha đã già rồi, chẳng biết ngày nào phải chết; 3 vậy bây giờ, cha xin con hãy lấy khí giới, ống tên và cung con, ra đồng săn thịt rừng cho cha, 4 dọn một món ngon tùy theo cha sở thích; rồi dâng lên cho cha ăn, đặng linh hồn cha chúc phước cho con trước khi chết. 5 Vả, đang khi Y-sác nói cùng Ê-sau con trai mình, thì Rê-be-ca có nghe. Ê-sau bèn ra đồng săn thịt rừng đặng đem về cho cha. 6 Rê-be-ca nói cùng Gia-cốp, con trai mình, rằng: Nầy, mẹ có nghe cha nói cùng Ê-sau, anh con, và dặn rằng: 7 Hãy đem thịt rừng về cho cha, dọn một món ngon cha ăn; đặng trước khi qua đời, cha sẽ chúc phước cho con trước mặt Đức Giê-hô-va. 8Vậy, con ơi! bây giờ, hãy nghe mẹ và làm theo lời mẹ biểu: 9 Hãy ra ngoài bầy, bắt hai dê con tốt, rồi mẹ sẽ dọn cho cha con một món ngon, tùy theo người sở thích; 10 con sẽ đem cho cha ăn, đặng người chúc phước con trước khi qua đời. 11 Gia-cốp thưa lại cùng mẹ rằng: Thưa mẹ, Ê-sau, anh con, có lông, còn con lại không. 12 Có lẽ cha sẽ rờ mình chăng, coi con như kẻ phỉnh gạt, thì con chắc lấy cho mình sự rủa sả, chớ chẳng phải sự chúc phước đâu. 13 Mẹ đáp rằng: Con ơi! xin sự rủa sả đó để cho mẹ chịu; hãy cứ nghe lời mẹ, ra bắt hai dê con. 14 Vậy, Gia-cốp đi bắt hai dê con, đem lại cho mẹ, làm món ngon, tùy theo cha sở thích. 15 Đoạn Rê-be-ca lấy quần áo tốt nhất của Ê-sau, con trưởng nam, sẵn để trong nhà, mà mặc vào cho Gia-cốp, con út mình; 16 rồi người lấy da dê con bao hai tay và cổ, vì tay và cổ Gia-cốp không có lông. 17 Rê-be-ca bèn để món ngon và bánh của mình đã dọn vào tay con út mình. 18 Gia-cốp bưng đến cha mình và nói rằng: Thưa cha! Y-sác đáp: Có cha đây; con là đứa nào đó? 19 Gia-cốp thưa: Tôi là Ê-sau, con trưởng nam của cha; con đã làm theo lời cha dặn biểu; xin cha dậy, ngồi ăn lấy thịt săn của con, đặng linh hồn cha sẽ chúc phước cho con. 20Y-sác hỏi rằng: Sao con đi săn được mau thế? Thưa rằng: Ấy nhờ Giê-hô-va Đức Chúa Trời của cha xui tôi gặp mau vậy. 21 Y-sác nói cùng Gia-cốp rằng: Hỡi con! hãy lại gần đặng cha rờ thử xem có phải là Ê-sau, con của cha chăng? 22 Gia-cốp bèn lại gần Y-sác; người rờ và nói rằng: Tiếng nói thì của Gia-cốp, còn hai tay lại của Ê-sau. 23 Người chẳng nhận biết đặng vì hai tay cũng có lông như của anh, là Ê-sau. Vậy Y-sác chúc phước cho. 24 Người lại hỏi rằng: Ấy con thật là Ê-sau, con trai ta, phải chăng? Gia-cốp thưa: Phải, con đây. 25 Y-sác bèn nói: Hãy dọn cho cha ăn lấy thịt săn của con, đặng linh hồn cha chúc phước cho con. Gia-cốp dọn cho người ăn, cũng có đem rượu cho người uống nữa. 26 Rồi Y-sác cha người nói rằng: Hỡi con! hãy lại gần và hôn cha. 27 Gia-cốp bèn lại gần và hôn người. Y-sác đánh mùi thơm của áo con, liền chúc phước cho, và nói rằng: Nầy, mùi hương của con ta Khác nào mùi hương của cánh đồng mà Đức Giê-hô-va đã ban phước cho. 28 Cầu xin Đức Chúa Trời cho con sương móc trên trời xuống, Được màu mỡ của đất, Và dư dật lúa mì cùng rượu. 29 Muôn dân phải phục con, Các nước phải quì lạy trước mặt con! Hãy được quyền chủ các anh em, Các con trai của mẹ con phải quì lạy trước mặt con! Ai rủa sả con sẽ bị rủa sả lại, Ai cầu phước cho con, sẽ được ban phước lại! 30Vừa khi Y-sác chúc phước cho Gia-cốp xong, và vừa khi Gia-cốp lùi ra khỏi nơi cha mình, thì Ê-sau, anh người, đi săn trở về. 31 Người cũng dọn một món ngon, dâng lên cho cha và thưa rằng: Xin dậy, ngồi ăn thịt săn của con trai cha, đặng linh hồn cha chúc phước cho con. 32 Y-sác, cha người, hỏi: Con là đứa nào? Thưa rằng: Tôi là Ê-sau, con trưởng nam của cha. 33 Y-sác lấy làm cảm động quá đỗi mà nói rằng: Vậy, còn đứa nào đã săn thịt rừng, và đã dâng lên cho cha đó? Trước khi con về, cha đã ăn hết rồi, và chúc phước cho nó; nó lại sẽ được ban phước vậy. 34 Vừa nghe dứt lời cha, thì Ê-sau la lên một tiếng rất lớn, và rất thảm thiết mà thưa cùng cha rằng: Cha ơi! xin hãy chúc phước cho con luôn nữa! 35 Nhưng Y-sác lại đáp: Em con đã dùng mưu kế đến cướp sự chúc phước của con rồi. 36 Ê-sau liền nói rằng: Có phải vì người ta gọi nó là Gia-cốp mà nó hai lần chiếm lấy vị tôi rồi chăng? Nó đã chiếm quyền trưởng nam tôi, và lại bây giờ còn chiếm sự phước lành của tôi nữa. Tiếp rằng: Cha chẳng có dành sự chúc phước chi cho tôi sao? 37 Y-sác đáp rằng: Nầy, cha đã lập nó lên làm chủ con, và đã cho các anh em làm tôi nó; và đã dự bị lúa mì và rượu cho nó. Vậy, cha sẽ làm chi cho con đây? 38 Ê-sau thưa rằng: Cha ơi! cha chỉ có sự chúc phước đó thôi sao? Hãy chúc phước cho con với, cha! Rồi Ê-sau cất tiếng lên khóc. 39 Y-sác cha người, đáp rằng: Nầy, nơi con ở sẽ thiếu màu mỡ của đất, Cùng sương-móc trên trời sa xuống. 40 Con sẽ nhờ gươm mới được sống. Và làm tôi tớ cho em con. Song khi con lưu lạc rày đó mai đây, Sẽ bẻ cái ách của em trên cổ con vậy. 41 Ê-sau trở lòng ghét Gia-cốp vì cớ cha mình chúc phước cho người, bèn nói thầm trong lòng rằng: Ngày tang của cha đã hầu gần; vậy, ta sẽ giết Gia-cốp, em ta, đi. 42 Họ đem lời Ê-sau, con lớn, thuật lại cùng Rê-be-ca, thì người sai gọi Gia-cốp, con út mình, mà nói rằng: Nầy, Ê-sau, anh con, toan giết con để báo thù. 43 Vậy, bây giờ, hỡi con, hãy nghe lời mẹ, đứng dậy, chạy trốn qua nhà La-ban, cậu con, tại Cha-ran, 44 và hãy ở cùng người ít lâu, cho đến lúc nào cơn giận của anh con qua hết.”
Sáng-thế-ký 27: 1-44Phần đang ứng nghiệm
40 Con sẽ nhờ gươm mới được sống. Và làm tôi tớ cho em con. Song khi con lưu lạc rày đó mai đây, Sẽ bẻ cái ách của em trên cổ con vậy.”

“Con sẽ nhờ gươm mới được sống.” gươm vũ khí sát thương thuở xưa, nay có thêm bom các loại.


“Và làm tôi tớ cho em con” Người Palestine  vào lãnh thổ Israel để tìm việc làm vì thu nhập trong Palestine thấp hơn khi qua Israel làm việc.

Lời tiên tri nói về dân Palestine buôn lậu qua bán đảo Sinai của Ai-cập 


3 -  Nhưng ta yêu Gia-cốp, mà ghét Ê-sau, ta làm cho những núi nó nên hoang vu, và phó sản nghiệp nó cho những chó nơi đồng vắng. (Ma-la-chi 1:3)
Hình ảnh ứng nghiệm ngày nay

Đường hầm buôn lậu của Palestine ở Gaza nối với bán đảo của Ai-cập, bán đảo Sinai này kinh thánh gọi là đồng vắng.

0

Nguyên nhân người Cơ Đốc sau khi chết, linh hồn bị ném xuống ngục của quỉ

by

Ngày 25 tháng 04 năm 2015

Nguyên nhân người Cơ Đốc sau khi chết, linh hồn bị ném xuống ngục của quỉ

27 Bởi đó, ai ăn bánh hoặc uống chén của Chúa cách không xứng đáng, thì sẽ mắc tội với thân và huyết của Chúa. 28 Vậy mỗi người phải tự xét lấy mình, và như thế mới ăn bánh uống chén ấy; 29 vì người nào không phân biệt thân Chúa mà ăn bánh uống chén đó, tức là ăn uống sự xét đoán cho mình. 30 Ấy vì cớ đó mà trong anh em có nhiều kẻ tật nguyền, đau ốm, và có lắm kẻ ngủ.” I Cô-rinh-tô 11: 26-30

Người Cơ-đốc đã được Chúa xóa sạch tội rồi nhưng vì sao Phao Lô lại nói ” ai ăn bánh hoặc uống chén của Chúa cách không xứng đáng, thì sẽ mắc tội với thân và huyết của Chúa.”

Người Cơ Đốc gồm Công giáo, Tin lành và Chính thống không tin Chúa Cha xóa sạch tội qua sự đổ huyết của Chúa Jesus nên trước khi họ dùng Tiệc này họ lại xưng tội, sau khi dùng xong lại đọc Kinh Lạy Cha tức bài Cầu nguyện chung, vì nội dung bài cầu nguyện mẫu này được ban cho người Do Thái trong thời Luật Moses còn hiệu lực, và khi Chúa Jesus chết thì luật này cũng chấm dứt, vì sao bài cầu nguyện mẫu này chấm dứt bởi sự tha tội trong bài này có điều kiện tức người được Chúa Cha tha tội phải tha tội người khác phạm cùng mình, còn khi Chúa chết thì ai tin Chúa Jesus là Đấng Christ thì người ấy được tha tội và người tin ấy không cần làm gì hết nên gọi là ân điển cách nhưng không,  tiệc thánh  một nghi lễ phước hạnh biến thành nghi lễ xúc phạm Đấng Christ, nên họ cũng giống như người không Cơ Đốc tức cũng đau ốm, tật nguyền  và chết, chết thì ai cũng phải chết, nhưng vì người Cơ Đốc xúc phạm Đấng Christ không tin sự đổ huyết và thân Chúa tan nát để mình được sạch tội, nên họ phải chết non tức qua đau ốm, tật nguyền, tai nạn vv và không phải chết tự nhiên, bởi người chết tự nhiên có tuổi thọ là 120 năm chớ không phải 70 hay 80 tuổi như ngày nay, và tuổi thọ 120 tuổi dường như được trao cho người ngoài Cơ Đốc.

Hậu quả về tâm linh:  Người xúc phạm Đấng Christ, khi họ chết, linh hồn họ bị ma quỉ ném vào ngục để quỉ dụ dỗ trong 10 năm, Sa-tan là cha nói dối nên có vô số chiêu để lừa dối từ đe dọa đến dụ ngọt.

Lời tiên tri nói về kẻ sỉ nhục, giày đạp Con Thiên Chúa qua sự chết và tha tội của Ngài:

Vì chưng những kẻ đã được soi sáng một lần, đã nếm sự ban cho từ trên trời, dự phần về Đức Thánh Linh, nếm đạo lành Đức Chúa Trời, và quyền phép của đời sau, nếu lại vấp ngã, thì không thể khiến họ lại ăn năn nữa, vì họ đóng đinh Con Đức Chúa Trời trên thập tự giá cho mình một lần nữa, làm cho Ngài sỉ nhục tỏ tường.” Heb 6: 4-6

“26 Vì nếu chúng ta đã nhận biết lẽ thật rồi, mà lại cố ý phạm tội, thì không còn có tế lễ chuộc tội nữa, 27 nhưng chỉ có sự đợi chờ kinh khiếp về sự phán xét, và lửa hừng sẽ đốt cháy kẻ bội nghịch mà thôi, 28 Ai đã phạm luật pháp Môi-se, nếu có hai ba người làm chứng, thì chết đi không thương xót, 29 huống chi kẻ giày đạp Con Đức Chúa Trời, coi huyết của giao ước, tức là huyết mà mình nhờ nên thánh, là ô uế, lại khinh lờn Đức Thánh Linh ban ơn, thì anh em há chẳng tưởng rằng người ấy đáng bị hình rất nghiêm đoán phạt hay sao? ” Heb 10: 26-29

Lời tiên tri nói huyết Chúa để tha tội và rửa sạch tội :

“Đức Chúa Jêsus lấy bánh, tạ ơn rồi, bẻ ra đưa cho môn-đồ mà rằng: Hãy lấy ăn đi, nầy là thân-thể ta. Ngài lại lấy chén, tạ ơn rồi, đưa cho môn-đồ mà rằng: Hết thảy hãy uống đi; vì nầy là huyết ta,  huyết của sự giao-ước đã đổ ra cho nhiều người được tha tội” Mat 26:26-28

” Đấng yêu thương chúng ta, đã lấy huyết mình rửa sạch tội lỗi chúng ta, và làm cho chúng ta nên nước Ngài, nên thầy tế lễ của Đức Chúa Trời là Cha Ngài, đáng được sự vinh hiển và quyền năng đời đời vô cùng! A-men.” Khải-huyền. 1:6

Tạ ơn Đấng yêu thương dù người Cơ Đốc chiếu theo sự Thánh Khiết của Ngài thì họ phải đi hỏa ngục nhưng Chúa Yêu Thương cho họ 3 cơ hội, Cơ hội 1; vượt qua thử thách khi còn sống, cơ hội 2; ấy là sau khi họ chết bị Sa-tan ném vào ngục*,  nếu họ vượt qua thử thách trong 10 ngày tiên tri thì họ sẽ được ban mão triều thiên thay cho trái sự sống trong Ê-đen.

“10 Ngươi chớ ngại điều mình sẽ chịu khổ. Nầy, ma quỉ sẽ quăng nhiều kẻ trong các ngươi vào ngục, hầu cho các ngươi bị thử thách; các ngươi sẽ bị hoạn nạn trong mười ngày. Khá giữ trung tín cho đến chết, rồi ta sẽ ban cho ngươi mũ triều thiên của sự sống.
11 Ai có tai, hãy nghe lời Ðức Thánh Linh phán cùng các Hội thánh rằng: Kẻ nào thắng, sẽ chẳng bị hại gì về lần chết thứ hai.”

Khải Huyền 2: 10-11

* Ghi chú: Ngục trong Khải Huyền 2: 10 không phải là địa ngục tức hồ lửa trong Kinh Thánh, mà là ngục có thời hạn trong việc thử thách với những người Cơ Đốc chối bỏ sự tha tội qua huyết Đấng Christ.

0

Tìm hiểu ngày Chúa chịu chết và giáng sinh ..

by

Thành phố Hồ Chí Minh tháng 7 năm 2003

Biết chắc ngày Chúa phục sinh tìm hiểu ngày Chúa chịu chết, Kinh Thánh cho biết ngày Chúa phục sinh là ngày thứ nhất (19 Buổi chiều nội ngày đó, là ngày thứ nhứt trong tuần lễ, những cửa nơi các môn đồ ở đều đương đóng lại, vì sợ dân Giu-đa, Ðức Chúa Jêsus đến đứng chính giữa các môn đồ mà phán rằng: Bình an cho các ngươi!( Giăng 20 :19) Theo các lời tiên tri thì ngày Chúa chịu chết đến ngày thứ ba sẽ sống lại, Ngài đã phán rằng: Con người phải bị nộp trong tay kẻ có tội, phải đóng đinh trên cây thập tự, và ngày thứ ba phải sống lại.( Lu-ca 24: 7) vậy ngày Chúa chịu chết = ngày Chúa phục sinh – 3 tức ngày thứ năm. Kinh Thánh cho biết Chúa bị đóng đinh vào lúc chín giờ sáng” Lúc đóng đinh Ngài, là giờ thứ ba.( Mác 15: 25) và lúc Chúa chết khoản 3 giờ chiều .( Mác 15: 33-37) Nhưng khi chôn Chúa thì vào lúc chiều tối nghĩa là đã bước sang ngày thứ sáu, theo cách tính của người Do Thái thời ấy, vì sáu giờ chiều là bước sang ngày mới (Sáng 1 : 5)
Chúa Jêsus nói “40 Vì Giô-na đã bị ở trong bụng cá lớn ba ngày ba đêm, cũng một thể ấy, Con người sẽ ở trong lòng đất ba ngày ba đêm.( Ma-thi-ơ 12: 40) Theo cách tính của người Do Thái thời ấy thì Chúa đã ở trong lòng đất ba đêm gồm đêm thứ Sáu, thứ Bảy và Chủ nhật còn theo cách tính của người Việt cũng như Quốc tế ngày nay thì Chúa đã ở trong lòng đất gồm đêm thứ Năm, thứ Sáu và thứ Bảy. Đa số các quan điểm dù vô tình hay cố chấp đều cho rằng: Từ khi Chúa bị bắt cho đến khi chúa chịu chết và chôn diễn ra chưa đến một ngày trọn tức từ tối thứ năm cho đến chiều thứ sáu (theo cách tính ngày nay) và như vậy thì lời Chúa phán ( Ma-thi-ơ 12 : 40) chưa ứng nghiệm cũng như đầy sự mâu thuẫn với toàn bộ kinh thánh .
Diễn biến tuần lễ sau chót của Chúa Jêsus cho đến khi Chúa phục sinh :
Ngày thứ Nhất : Chúa sắp xếp địa điểm dự lễ vượt qua với các sứ đồ đến chiều thì bắt đầu nhập tiệc (Mác 14 : 12-17 ; Lu-ca 22 : 14 -17 )
Ngày thứ Hai: Chúa mở tiệc lập giao ước mới va økết thúc buổi tiệc, Chúa cầu nguyện cùng các môn đồ trên núi Ô-li-ve và bị bắt ( Mác 14 : 51-52),.. Chúa bị xét xử tại trụ sở toà của chánh quyền Do Thái giáo và những chứng dối không hiệp nhau nên toà án của chánh quyền Do Thái giáo không kết án được. ( Mác 14 : 55-60)
Ngày thứ Ba: Chúa bị giải đến quan tổng đốc Phi-lát và vua Hê- rốt để xét xử nhưng cũng không đủ bằng chứng để xử tội chết ( Mat 27: 1-2 ; Lu-ca 23 : 5-11) .
Ngày thứ Tư: Hê rốt trả Chúa về  Phi-lát vì không đủ chứng cứ đáng tử hình và Chúa tiếp tục bị Phi-lát thẩm vấn nhưng do áp lực từ chánh quyền Do Thái giáo .. nên kết án tử hình Chúa lúc 12 giờ trưa (Giăng 19 : 14b -16) và Giu-đa hoàn tất sứ mệnh của mình theo lời tiên tri(Mat 27 : 3 – 10)
Ngày thứ Năm: Làm thủ tục thi hành án từ lúc sáng sớm cho đến lúc Chúa bị đóng đinh lúc 9 giờ sáng ( Mác 15: 25) và chết trong lúc 3 giờ chiều.
Ngày thứ Sáu : Mới bắt đầu ngày mới vào lúc chiều tối thì chôn Chúa(Mác 15: 42- 47)
Ngày thứ Bảy: Ngày nghỉ và chánh quyền Do Thái giáo cắt cử lính canh mộ Chúa(Mat 27: 62 – 66).
Sáng sớm Ngày thứ Nhất của tuần mới Chúa Phục sinh
Kết: Chúa chịu chết và chôn vào ngày thứ Năm (theo cách tính ngày nay)


Tìm hiểu : Ngày Chúa giáng sinh
Theo người Việt thì ngày thứ Nhất gọi là ngày Chúa nhật hay Chủ nhật, như vậy tức là ngày của Chúa nghĩa là ngày Chúa giáng sinh và phục sinh cùng là ngày thứ nhất.
Vậy thì ngày Chúa dự lễ sinh nhật trên đất của mình với các sứ đồ lần cuối cùng trên đất được ghi trong sách (Mác 14 : 12-17)
Kinh thánh cho biết Chúa sinh nhật trên đất có thể là trong kỳ lễ vượt qua(Lu-ca 2: 41-42) Vì trong lúc Chúa giáng sinh sách Lu-ca cho biết “Vả, cũng trong miền đó, có mấy kẻ chăn chiên trú ngoài đồng, thức đêm canh giữ bầy chiên.” Như vậy cũng có nghĩa rằng khí hậu lúc ấy ấm áp, ngoài đồng có thức ăn cho bầy chiên. Và trong máng cỏ lúc ấy không có gia súc tức không có mùi chất thải của gia súc . Nên Chúa đã giáng sinh nơi máng cỏ (Lu-ca 2: 7 – 8).
KẾT: CHÚA GIÁNG SINH VÀO CUỐI MÙA XUÂN VÀ LÀ NGÀY CHỦ NHẬT


Tìm hiểu : ĐẤNG CỨU CHUỘC CỦA NGƯỜI DO THÁI
Theo như các lời tiên tri trong Kinh Thánh thì Đấng ấy sẽ được sanh tại Si Ôn tức thành Đa Vít thuộc Jerusalem là kinh đô của người Do Thái 26 vậy thì cả dân Y-sơ-ra-ên sẽ được cứu, như có chép rằng: Ðấng Giải cứu sẽ đến từ Si-ơn, Cất sự vơ đạo ra khỏi Gia-cốp; ( Rơ-ma 11: 26)
Trong truyện Giáng sinh Chúa Giê-xu, thì thiên sứ báo tin hôm nay tại thành Đa-vít sẽ sanh cho các ngươi một đấng cứu thế là Christ là Chúa nhưng sau đó đã đính chính là Bết-lê-hem vì Chúa Giê-xu là đấng cứu thế là Christ của toàn thế giới và Chúa Giê-xu đã ứng nghiệm về Đấng cứu chuộc một phần đối với người Do Thái, phần còn lại sẽ được ứng nghiệm hoàn tất về một Đấng mà sách tiên tri có đề cập: Khải huyền 12: 1- 5; 19:11- 16; cũng như những sự kiện sẽ diễn ra trong tương lai .

 

Lần đầu tiên vào năm 2014 người Tin lành phía nam chính thức tổ chức ngày Chúa chịu chết vào ngày Thứ Năm

2

Các nhà chiêm tinh ra mắt Chúa khi Ngài lên 2 tuổi là người Việt

by

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 7 tháng 12 năm 2000

Trong thế kỷ thứ nhất tại phương Đông có một dân tộc lầm than đang khao khát tìm kiếm sự độc lập cho dân tộc họ, họ trải qua nhiều thế hệ bị dân tộc khác đô hộ và có nhiều cuộc khởi nghĩa nhưng không thành công, kìa cơ hội họ mong chờ đang đến một ngôi sao từ phía tây xuất hiện báo hiệu một Đấng quân vương đã giáng sinh, và lạ thay trong dòng suy nghĩ của họ (Kinh thánh mô tả họ là các bác sĩ hay các nhà chiêm tinh) hiện lên tia hy vọng rằng Đấng ấy sẽ giúp dân tộc họ có được nền độc lập nên họ vội vàng thu xếp hành lý đã chuần bị và họ lên đường theo ngôi sao của quân vương ấy mà thờ lạy.

Hành trình theo ngôi sao phía tây thấm thoát đã gần hai năm ngôi sao đã đưa họ đến:

Jerusalem kinh đô của người Do Thái, căn cứ vào tầm vóc, y phục nên người Do Thái biết ngay là người phương đông.

Xứ Do Thái thuộc khu vực cực tây châu Á (vì giáp biển lớn) tương tự khi nói đến đông phương thật sự.

Ranh tây Á & đông Á về địa lý, cùng chủng tộc và văn hoá, lấy ranh Ấn Độ và Trung Quốc làm chuẩn. Nếu ở Âu châu thì người ta có thể gọi toàn châu Á là đông phương nhưng Do Thái là phương tây Á nên không thể gọi các vùng trong khu vực là phương đông, trong thời kỳ này người ta đã biết đến nhiều dân tộc, quốc gia, và ba châu lục địa không còn như trong thời kỳ tháp Ba Bên tất cả là một dân tộc.v.v..

Chủng tộc: người tây Á, mắt to, mũi cao gọn, chiều cao nhỉnh hơn người đông Á & người đông Á ngược lại. Các nước phương đông trọn vẹn ngày nay gồm: Trung Quốc , Việt Nam, Triều Tiên bởi lẽ các nước này không bị các nước khác cản mặt khi hướng về phương đông tức giáp biển đông của lục địa đất liền.

Vào thời kỳ ấu nhi Chúa Jesus thì dân tộc Kinh ở phương đông có hoàn cảnh chính trị tương tự như người Do Thái vì trước đó đã bị người Trung Quốc chiếm mất vương quốc của dân tộc mình (An Dương Vương) và vẫn tiếp tục bị đô hộ trong thời kỳ ấu Chúa Jêsus, nên dân tộc Kinh không có vua và Đức Chúa Trời cho họ thấy được ngôi sao của vua muôn dân hầu ban phước cho dân tộc họ sau này, Vương quốc Do Thái sau đó đã mất tên trên bản đồ thế giới cho đến gần hai ngàn năm tức năm 1948 mới lập quốc trở lại, phải chăng do lời tiên tri mà người Do Thái đă từ chối Chúa Jêsus (Rôm 11: 26)

MAT 2:12 Đức Chúa Trời có thể đã bảo với các bác sĩ không kể lại chuyện tôn thờ ấu Chúa cho dân tộc ḿình biết, tương tự với vua Hê rốt và không cho xem sao để đoán nữa theo như luật pháp Môi se (Phục 4: 19, 17: 3,4) trong khi ấy các dân tộc phía Trung Quốc vẫn tiếp tục xem sao (thời Tam quốc các đối phương xem sao biết Khổng Minh đă chết) Sau khi các bác sĩ dân tộc Kinh đă tôn thờ ấu Chúa Jesus thì khoảng ngàn năm sau dân tộc Kinh đã có vua, quốc gia độc lập liên tục và chiếm thêm hai vương quốc nữa (Chiêm thành & Chân lạp) cho đến ngày nay tức miền trung và miền nam Việt Nam. Trong chiến tranh dân tộc Kinh đă chiến thắng một số cường quốc để bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ (Nguyên Mông, nhà Thanh, Pháp 1954..vv. Ngày nay người kinh có được bộ chữ quốc ngữ là mẫu chữ La Tinh (tức mẫu chữ chép Kinh-thánh tân ước thay thế cho mẫu chữ Trung Quốc), ghi được tiếng thổ âm hầu dọn đường cho việc in Kinh-thánh phổ thông đến từng người, cűng như gọi ngày thứ nhất trong tuần là ngày Chúa nhật (hay Chủ nhật) không giống như các nước trong khu vực và hiện nay đạo Công giáo và Tin lành (thuộc cơ đốc giáo) là hai tôn giáo lớn đứng hàng thứ hai và ba tại Việt Nam.
Câu 11-16 khi các bác sĩ đến tôn thờ Chúa Jêsus thì Ngài đã hai tuổi nên không còn nằm trong máng cỏ và có các y phục của con trẻ hai tuổi và gia đ́ình Chúa đã có nhà tại Bết-lê- hem.
Câu 1- 7 vì các bác sĩ chỉ đi trong ban đêm (có sao dẫn đường) nên đi chậm do đó mất đến hai năm, các bác sĩ là dân tộc Kinh nên không giới thiệu về mặt chính trị tức tên Quốc gia (v́ì không có) nên chỉ nói về phương diện địa lý tức đông phương.
Người Do Thái lúc bấy giờ đã biết các dân tộc, quốc gia thuộc khu vực tây Á & đông Á thậm chí có thể biết cả vùng đất nam Việt Nam ngày nay (Ê xê chi ên 39: 11., ở về phương đông biển,. đồng trũng) cũng như các châu lục khác (Ê xơ tê 8: 9; Ê sai 49: 12; Công vụ 2: 9-11)
Êsai 49:8-13 nói về sự cứu rỗi cho nhiều dân tộc, trong đó có dân Si-ni đã ra mắt Chúa tại xứ thánh, tại xứ Do Thái lúc này đường giao thông từ các hướng đổ về được mở mang và phát triển mà Kinh-thánh gọi là sự mở đường, ban bằng đường cái theo nghĩa đen (Ê-sai 40: 3), theo nghiên cứu về các dân tộc trong Kinh-thánh thì một số quan điểm cho rằng dân Si- ni nằm về phía nam Trung Quốc đó là quốc gia Việt Nam đúng về địa lý và tên gọi về đất nước này ngày nay.
Lu-ca 2: 10. Chúa Jêsus là vua muôn dân nên các bác sĩ không phải là người tây Á tức có quan hệ bà con gần với người Do Thái. Người tây Á không thể đi mất thời gian hai năm mới đến xứ Do Thái trong khi giao thông đường bộ được mở mang và phát triển, Các nước tây Á ngày nay đa phần theo Hồi giáo đối lập với Cơ Đốc giáo.
Vì Chúa Jesus ở hai năm tại Bết-lê-hem nên đã làm trọn luật pháp Môi se truyền (Lu ca 2: 22-24)
Lu-ca 2: 10. khi báo tin cho các mục đồng tức dân địa phương là người Do Thái thì thiên sứ trực tiếp báo tin vì theo luật pháp Môi-se người Do Thái không xem sao.

CHIEM TINH

————————————————————————-Theo Pedro Ordonez de Cevallos, một Linh Mục Tây Ban Nha, Sứ Ðồ Thô-ma là người đầu tiên truyền bá đạo Chúa đến Việt Nam. Cũng theo Linh Mục Cevallos, khi ấy Sứ Ðồ Thô-ma đã làm chứng cho một vị vua Việt Nam tiếp nhận Chúa.Linh Mục Ordonez de Cevallos là một trong những giáo sĩ đầu tiên đến Việt Nam truyền giáo vào năm 1590. Ông là một người có uy tín và được ơn Chúa. Ông đã làm phép báp-têm cho Công Chúa Mai Hoa dưới thời nhà Lê tin Chúa. Tuy nhiên, ý kiến của Linh Mục Cevallos cho rằng Sứ Ðồ Thô-ma đã đến truyền giảng tại Việt Nam vào thế kỷ thứ I khiến nhiều nhà nghiên cứu đặt nghi vấn vì nhận định này không có sử liệu minh chứng.Theo sách Ngoại Kỷ, suốt thế kỷ thứ I, Việt Nam chỉ độc lập khoảng 3 năm dưới thời Hai Bà Trưng (40-43 S.C.). Trước khi Hai Bà Trưng giành độc lập, nước Việt – khi ấy gọi là Giao Chỉ – bị sáp nhập vào Tây Hán (Bái Công) 149 năm. Sau khi Hai Bà Trưng mất, Việt Nam bị nhập về Ðông Hán (Quang Võ) 144 năm. Như vậy, nếu lời Linh Mục Cevallos là đúng, Sứ Ðồ Thô-ma phải đến Việt Nam vào khoảng năm 40-43 S.C., và hai Bà Trưng, vua Việt Nam vào thế kỷ thứ I, đã tin Chúa. Tuy nhiên, trong những sử sách Việt Nam còn tồn tại đến ngày nay, không một tài liệu nào ghi lại việc ấy.
Hơn nữa, về phương diện lịch sử Hội Thánh, giả thuyết này cũng khó được chấp nhận. Nếu những nhà làm lịch tính đúng, Hội Thánh được thành lập vào khoảng năm 33 S.C.. Nhưng chúng ta biết, trong vài năm đầu Hội Thánh chỉ phát triển tại Giê-ru-sa-lem. Khi những cơn bắt bớ đầu tiên xảy ra, Hội Thánh mới phát triển sang vùng Giu-đê và Sa-ma-ri. Nếu chỉ vài năm sau đó, các đầy tớ Chúa đã vượt gần nửa vòng trái đất để truyền bá đạo Chúa đến Việt Nam thì có lẽ hơi quá sớm.

nguồn: http://vnbaptist.org/Tai_Lieu/QuaTrinh.htm

Dù sao đây cũng là điều thú vị, vì không ai có thể hỏi vị vua đầu tiên của người Kinh trong thế kỷ thứ nhất về vấn đề Linh Mục Ordonez de Cevallos nêu trên, cũng như câu truyện này phù hợp với việc các nhà chiêm tinh là người Việt vì họ đã vượt gần nửa vòng trái đất để mưu cầu sự phước lành trên dân tộc mình tức ra mắt Chúa của Sứ-đồ Thô-ma, để rồi gần 50 năm sau vị Sứ-đồ này đã lại vượt gần nửa vòng trái đất đến quê hương của các bác sĩ người Kinh năm xưa hầu trả quả tâm linh trước và vấn đề chính trị theo sau.

Lời trong Kinh Thánh cho biết có những việc bí mật sẽ được bày tỏ ra trước ngày tận thế nhưng cũng có việc đến ngày tận thế mới được bày tỏ.

Đa số các nhà làm lịch đều cho rằng những nhà làm lịch của các thế kỷ trước tính sai, vì năm Chúa Giê-su giáng sanh là năm thứ sáu hay bảy trước tây lịch chứ không phải là năm thứ nhất tây lịch như ngày nay.

————————————————————-

Tìm hiểu ngày Chúa Jesus giáng sinh theo Kinh Thánh

Dựa trên dữ liệu 4 sách đầu tiên của Kinh thánh tân ước và các phần kinh thánh khác mà 4 sách này có đề cập,
Ngày Chúa Jesus giáng sinh theo Kinh Thánh thường được mọi người chỉ chú ý vài chương đầu của sách Matthew và Luke,
Sách Matthew mô tả Chúa Jesus giáng sinh vào mùa trong dịp lễ vượt qua như sau:
Mat 2:16-20 “ 16 Vua Hê-rốt thấy mình đã bị mấy thầy bác sĩ đánh lừa, thì tức giận quá, bèn sai giết hết thảy con trai từ hai tuổi sấp xuống ở thành Bết-lê-hem và cả hạt, theo đúng ngày tháng mà mấy thầy bác sĩ đã cho vua biết.
17 Vậy là ứng nghiệm lời đấng tiên tri Giê-rê-mi đã nói rằng:
18 Người ta có nghe tiếng kêu la, phàn nàn, than khóc trong thành Ra-ma: Ấy là Ra-chen khóc các con mình, mà không chịu yên ủi, vì chúng nó không còn nữa.
19 Nhưng sau khi vua Hê-rốt băng, có một thiên sứ của Chúa hiện đến cùng Giô-sép trong chiêm bao, tại nước Ê-díp-tô, mà truyền rằng:
20 Hãy chờ dậy, đem con trẻ và mẹ Ngài trở về xứ Y-sơ-ra-ên, vì những kẻ muốn giết con trẻ đã chết rồi.”
Lễ Vượt qua là lễ các con trai đầu lòng của người Y-sơ-ra-ên thoát chết và các con đầu lòng của người Ai-cập bị giết,
Trong sự kiện Chúa giáng sinh thì Chúa Jesus là con đầu lòng bị truy sát cùng các con trai từ hai tuổi sấp xuống ở thành Bết-lê-hem và cả hạt trong xứ Do Thái trong dịp lễ vượt qua.
Sách Luke bổ sung lúc Chúa giáng sinh trời ấm áp chớ không phải là mùa đông “ 7 Người sanh con trai đầu lòng, lấy khăn bọc con mình, đặt nằm trong máng cỏ, vì nhà quán không có đủ chỗ ở.
8 Vả, cũng trong miền đó, có mấy kẻ chăn chiên trú ngoài đồng, thức đêm canh giữ bầy chiên.
9 Một thiên sứ của Chúa đến gần họ, và sự vinh hiển của Chúa chói lòa xung quanh, họ rất sợ hãi.
10 Thiên sứ bèn phán rằng: Đừng sợ chi; vì nầy, ta báo cho các ngươi một Tin Lành, sẽ làm một sự vui mừng lớn cho muôn dân;
11 ấy là hôm nay tại thành Đa-vít đã sanh cho các ngươi một Đấng Cứu thế, là Christ, là Chúa.”
Mùa đông thì người ta cho chiên ở trong chuồng chớ không cho ở ngoài đồng.
Câu 41-42 nói trong dịp lễ vượt qua thì Chúa Jesus lên 12 tuổi
“ 41 Và, hằng năm đến ngày lễ Vượt qua, cha mẹ Đức Chúa Jêsus thường đến thành Giê-ru-sa-lem.
42 Khi Ngài lên mười hai tuổi, theo lệ thường ngày lễ, cùng lên thành Giê-ru-sa-lem.”
Vậy lễ vượt qua có 7 ngày, vậy Ngài sanh ngày nào, trong 4 sách đầu tân ước chỉ ghi lại Chúa dự lễ vượt qua duy nhất một lần và là ngày đầu tiên sau đó Chúa bị bắt và bị giết, và ngày thứ nhất chính là ngày Chủ Nhật ngày nay, bởi người Do Thái dự lễ vượt qua 7 ngày theo ngày của tháng chớ không theo ngày của tuần, nhưng sự kiện lễ vượt qua Chúa dự thì 7 ngày này của tháng trùng hợp với 7 ngày của tuần tức từ Thứ nhất đến thứ bảy, ngày cuối cùng của lễ vượt qua gọi là Lễ trọng, nhưng vì rơi vào ngày thứ bảy cũng là ngày Sa-bát nên ngày này là lễ rất trọng thể.
“ 31 Vì bấy giờ là ngày sắm sửa về ngày Sa-bát, mà Sa-bát nầy là rất trọng thể, nên dân Giu-đa ngại rằng những thây còn treo lại trên thập tự giá trong ngày Sa-bát chăng, bèn xin Phi-lát cho đánh gãy ống chơn những người đó và cất xuống.” John 19:31
John Baptist là anh họ Chúa Jesus phần xác, lớn hơn Chúa Jesus 6 tháng, nên biết được ngày sinh Chúa Jesus thì cũng biết được tháng sinh ông John Baptist.
Vậy ngày nay đã biết được ba ngày của Chúa Jesus đều là ngày thứ nhất tức Chủ Nhật, và chỉ có Việt Nam gọi ngày thứ nhất là Chúa Nhật (Lord’s Day) mà thôi, vì người Anh gọi ngày thứ nhất là Sunday tức ngày mặt trời
Vậy ngày Chúa giáng sinh chính là ngày thứ nhất ăn bánh không men Chúa dự lễ vượt qua, còn ngày Chúa phục sinh sau đó đúng một tuần tức thứ nhất tiếp theo của tuần mới.
Chủ Nhật giáng sinh năm  4 Trước CN

Ngày Chúa giáng sinh là Chủ Nhật cuối tháng 3 dương lịch hay giữa tháng 4 tức rằm tháng Giêng lịch Do Thái, là rằm xuân phân lịch âm Việt Nam  năm 2016 là 20/3/2016 là ngày Chủ Nhật .
Chủ Nhật phục sinh năm 29 Dương lịch

Tra lịch Do Thái năm 29 CN, ngày 15 tháng Nissan là ngày Chủ Nhật, và Chủ Nhật tiếp theo là ngày 22 Nisan tức kết thúc lễ Vượt qua thì Chúa phục sinh, tương tự năm 4 TCN ngày 15 tháng Nissan cũng là ngày Chủ Nhật.
Chủ Nhật tái lâm

Là ngày 26/12/2004 là Chủ Nhật giữa mùa đông và là Chủ Nhật cuối cùng của năm, Khải Huyền 22:13 nói Chúa là thứ nhất và là sau chót, Ngài là người Do Thái phần xác nên Ngài sinh ra là ngày rằm thứ nhất trong tháng thứ nhất và mùa xuân cũng là mùa đầu tiên của lịch Do Thái, nhưng khi Ngài tái lâm thì là tháng cuối cùng, Chủ Nhật cuối cùng và mùa đông cuối cùng trong bốn mùa và theo Dương lịch chớ không theo lịch Do Thái, bởi người Do Thái đã từ chối Ngài, đóng đinh Ngài.

Ngày Chúa giáng sinh là Chủ Nhật cuối tháng 3 dương lịch hay giữa tháng 4 tức rằm tháng Giêng lịch Do Thái, là rằm xuân phân lịch âm Việt Nam  năm 2016 là 20/3/2016 là ngày Chủ Nhật .

Nguồn http://viewvn.com/?p=78

0

Ăn năn trong cộng đồng Cơ Đốc

by

Thành phố Hồ Chí Minh ngày 3 tháng 11 năm 2015
Ăn năn là gì trong cộng đồng Cơ Đốc

Mọi người ngộ nhận ăn năn mới được tha tội, ăn năn để tâm linh được lớn mạnh và phát triển, một người tin Jesus là Christ thì đã là công dân trên trời rồi, và Chúa Jesus đã lấy huyết Ngài chuộc tội cho công dân trên trời rồi, nếu công dân ấy có phạm tội trọng theo mắt loài người thì đã bị luật loài người xử lý rồi và họ có vi phạm lỗi lầm hết lần này đến lần khác mà họ vẫn không ăn năn thì cuộc sống tâm linh họ sẽ đi xuống chớ họ không bị Thiên Chúa định tội và phạt (Rô-ma 8:1) khẳng định vấn đề này như sau: “ Cho nên hiện nay chẳng còn có sự đoán phạt nào cho những kẻ ở trong Đức Chúa Jêsus Christ”

Trong cuộc sống trần gian nếu một công dân không chịu khó rèn tập thì cuộc sống họ sẽ không có tiếng nói trong xã hội nhưng họ vẫn là một công dân của một nước trần gian.

Vậy ăn năn trong cộng đồng Cơ Đốc chính là sự rèn tập để có bước đi trong tâm linh vững chắc và thành công, chớ không phải ăn năn mà được tha tội, vì người Cơ Đốc đã được Thiên Chúa xóa tội rồi nên gọi là thánh đồ.
1

Lời thề máu với Con Thiên Chúa ứng nghiệm (vào năm 70 và 1945.)

by

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 24 tháng 8 năm 2009

Lời thề xưa: Hết thảy dân chúng đều đáp rằng: Xin huyết người lại đổ trên chúng tôi và con cái chúng tôi! “

“22 Phi-lát nói rằng: Vậy, còn Jêsus gọi là Christ, thì ta sẽ xử thế nào? Chúng đều trả lời rằng: Đóng đinh nó trên cây thập tự!

23 Quan hỏi: Song người nầy đã làm việc dữ gì? chúng lại kêu la lớn hơn rằng: Đóng đinh nó trên cây thập tự!

24 Phi-lát thấy mình không thắng nổi chi hết, mà sự ồn ào càng thêm, thì lấy nước rửa tay trước mặt thiên hạ, mà nói rằng: Ta không có tội về huyết của người nầy; điều đó mặc kệ các ngươi.

25 Hết thảy dân chúng đều đáp rằng: Xin huyết người lại đổ trên chúng tôi và con cái chúng tôi!

26 Phi-lát bèn tha tên Ba-ra-ba cho chúng; và khiến đánh đòn Đức Chúa Jêsus, đoạn giao Ngài ra để đóng đinh trên cây thập tự.

—————————–
“25 Hết thảy dân chúng đều đáp rằng: Xin huyết người lại đổ trên chúng tôi và con cái chúng tôi!”Huyết vô tội của Chúa “đổ trên chúng tôi ” tức những kẻ giết Chúa vào năm 70 của thế kỷ đầu tiên tức sau sự kiện giết Chúa khoảng 40 năm, khi người La-mã san bằng đền thờ của người Israel trong Jerusalem và phanh thây nhà nước Israel gần 20 thế kỷ cho đến 1948.
Huyết vô tội của Chúa “đổ trên con cái chúng tôi” vào thời Hitle diệt chủng khoảng 6 triệu dân Israel từ năm 1939 cho đến năm 1945.
Đây cũng là lời cảnh báo với mọi người chớ nên thề độc

Người Israel đã phải trả bằng máu, máu họ đổ ra khắp châu Âu và Địa trung hải khi lời thề trả xong thì họ mới có được quốc gia như ngày nay kể từ năm 1948.

0

Khủng long và nguyên nhân bị mất chân theo Kinh Thánh.

by

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 2 tháng 6 năm 2007
Về thời gian lời trong Kinh thánh cho biết như sau: “1 Ban đầu Đức Chúa Trời dựng nên trời đất. 2 Vả, đất là vô hình và trống không, sự mờ tối ở trên mặt vực; Thần Đức Chúa Trời vận hành trên mặt nước. 3 Đức Chúa Trời phán rằng: Phải có sự sáng; thì có sự sáng. 4 Đức Chúa Trời thấy sự sáng là tốt lành, bèn phân sáng ra cùng tối. 5 Đức Chúa Trời đặt tên sự sáng là ngày; sự tối là đêm. Vậy, có buổi chiều và buổi mai; ấy là ngày thứ nhứt. 6 Đức Chúa Trời lại phán rằng: Phải có một khoảng không ở giữa nước đặng phân rẽ nước cách với nước. 7 Ngài làm nên khoảng không, phân rẽ nước ở dưới khoảng không cách với nước ở trên khoảng không; thì có như vậy. 8 Đức Chúa Trời đặt tên khoảng không là trời. Vậy, có buổi chiều và buổi mai; ấy là ngày thứ nhì. 9 Đức Chúa Trời lại phán rằng: Những nước ở dưới trời phải tụ lại một nơi, và phải có chỗ khô cạn bày ra; thì có như vậy. 10 Đức Chúa Trời đặt tên chỗ khô cạn là đất, còn nơi nước tụ lại là biển. Đức Chúa Trời thấy điều đó là tốt lành. 11 Đức Chúa Trời lại phán rằng: Đất phải sanh cây cỏ; cỏ kết hột giống, cây trái kết quả, tùy theo loại mà có hột giống trong mình trên đất; thì có như vậy. 12 Đất sanh cây cỏ: cỏ kết hột tùy theo loại, cây kết quả có hột trong mình, tùy theo loại. Đức Chúa Trời thấy điều đó là tốt lành. 13 Vậy, có buổi chiều và buổi mai; ấy là ngày thứ ba. 14 Đức Chúa Trời lại phán rằng: Phải có các vì sáng trong khoảng không trên trời, đặng phân ra ngày với đêm, và dùng làm dấu để định thì tiết, ngày và năm; 15 lại dùng làm vì sáng trong khoảng không trên trời để soi xuống đất; thì có như vậy. 16 Đức Chúa Trời làm nên hai vì sáng lớn; vì lớn hơn để cai trị ban ngày, vì nhỏ hơn để cai trị ban đêm; Ngài cũng làm các ngôi sao. 17 Đức Chúa Trời đặt các vì đó trong khoảng không trên trời, đặng soi sáng đất, 18 đặng cai trị ban ngày và ban đêm, đặng phân ra sự sáng với sự tối. Đức Chúa Trời thấy điều đó là tốt lành. 19 Vậy, có buổi chiều và buổi mai; ấy là ngày thứ tư. 20 Đức Chúa Trời lại phán rằng: Nước phải sanh các vật sống cho nhiều, và các loài chim phải bay trên mặt đất trong khoảng không trên trời. 21 Đức Chúa Trời dựng nên các loài cá lớn, các vật sống hay động nhờ nước mà sanh nhiều ra, tùy theo loại, và các loài chim hay bay, tùy theo loại. Đức Chúa Trời thấy điều đó là tốt lành. 22 Đức Chúa Trời ban phước cho các loài đó mà phán rằng: Hãy sanh sản, thêm nhiều, làm cho đầy dẫy dưới biển; còn các loài chim hãy sanh sản trên đất cho nhiều. 23 Vậy, có buổi chiều và buổi mai; ấy là ngày thứ năm. 24 Đức Chúa Trời lại phán rằng: Đất phải sanh các vật sống tùy theo loại, tức súc vật, côn trùng, và thú rừng, đều tùy theo loại; thì có như vậy. 25 Đức Chúa Trời làm nên các loài thú rừng tùy theo loại, súc vật tùy theo loại, và các côn trùng trên đất tùy theo loại, Đức Chúa Trời thấy điều đó là tốt lành. 26 Đức Chúa Trời phán rằng: Chúng ta hãy làm nên loài người như hình ta và theo tượng ta, đặng quản trị loài cá biển, loài chim trời, loài súc vật, loài côn trùng bò trên mặt đất, và khắp cả đất. 27 Đức Chúa Trời dựng nên loài người như hình Ngài; Ngài dựng nên loài người giống như hình Đức Chúa Trời; Ngài dựng nên người nam cùng người nữ. 28 Đức Chúa Trời ban phước cho loài người và phán rằng: Hãy sanh sản, thêm nhiều, làm cho đầy dẫy đất; hãy làm cho đất phục tùng, hãy quản trị loài cá dưới biển, loài chim trên trời cùng các vật sống hành động trên mặt đất. 29 Đức Chúa Trời lại phán rằng: Nầy, ta sẽ ban cho các ngươi mọi thứ cỏ kết hột mọc khắp mặt đất, và các loài cây sanh quả có hột giống; ấy sẽ là đồ ăn cho các ngươi. 30 Còn các loài thú ngoài đồng, các loài chim trên trời, và các động vật khác trên mặt đất, phàm giống nào có sự sống thì ta ban cho mọi thứ cỏ xanh đặng dùng làm đồ ăn; thì có như vậy. 31 Đức Chúa Trời thấy các việc Ngài đã làm thật rất tốt lành. Vậy, có buổi chiều và buổi mai; ấy là ngày thứ sáu.”
Như vậy ngày thứ tư trở về trước sự sáng xuống quả đất này là gì thì chúng ta không biết, do đó không thể tính được thời gian như ngày nay tức 1 ngày = 24 giờ, nhưng kể từ ngày thứ năm trở đi thì mặt trăng và mặt trời đã có cùng các ngôi sao và bắt đầu họat động, như vậy từ ngày thứ năm trong sách Sáng Thế Ký cho đến ngày thời nay = nhau, tức 1 ngày = 24 giờ , Cây cỏ nói chung là hệ thực vật được dựng nên ngày thứ ba tức trước cả các tinh tú trên bầu trời, Ngày thứ năm : Nước phải sanh các vật sống cho nhiều, và các loài chim phải bay trên mặt đất trong khoảng không trên trời. Ngày thứ sáu : “Đức Chúa Trời lại phán rằng: Đất phải sanh các vật sống tùy theo loại, tức súc vật, côn trùng, và thú rừng, đều tùy theo loại; thì có như vậy…” Tức có cả khủng long và lòai người nữa cùng có chung một ngày sinh nhật tức thứ sáu, và lời tiên tri với lòai khủng long như sau :Vì mầy đã làm điều như vậy, mầy sẽ bị rủa sả trong vòng các loài súc vật, các loài thú đồng, mầy sẽ bò bằng bụng và ăn bụi đất trọn cả đời. Vậy chúng thuộc lòai thú đồng. Kinh thánh không gọi chúng là khủng long , khủng long là từ riêng của tiếng Việt, trong Khảỉ-huyền gọi chúng là con rồng, con rắn xưa, vậy khủng long chính là hình ảnh con rắn xưa, và con rồng là biểu tượng cuả quyền lực mà dân đông phương tôn sùng nên gọi là long, trong đó người Việt đặt tên cho thủ đô của mình với một tên trân trọng là Thăng Long tức rồng bay lên, vịnh Hạ Long tức rồng giáng xuống Tương tự người Mỹ chọn biểu tượng quyền lực là chim ó, hay các dân khác chọn sư tử, vv Vậy nguyên nhân khủng long bị tuyệt chủng về hình dáng là Satan đã nhập vào chúng để dụ lòai người nên chúng bị vạ lây.. [[1]] Như vậy loài khủng long xuất hiện cách nay không quá 6000 năm và bị tuyệt chủng về hình dáng không quá 4500 năm tức trong sự kiện nước lụt thời Nô-ê trong Kinh thánh còn người Việt gọi là truyền thuyết Sơn Tinh Thủy Tinh. Chứng cứ : hình ảnh hóa đá ở hang đầu gỗ và hang sửng sốt.
Vậy nó thuộc lòai thú chớ không phải bò sát còn bò sát là sau khi bị biến dạng như ngày nay tức là lòai rắn, rắn có nhiều họ hàng từ khổng lồ đến nhỏ bé, lòai to có thể nuốt chửng lòai thú lớn ngày nay, bọn ngu si nói vượn là tổ tiên mình, ngày nay có thấy con vượn nào gần thành người đâu, vậy chẳng có sự tiến hóa nào hết vì mọi loài từ khi có trên đất này cho tới nay vẫn như vậy, có chăng sự tiến hóa là lòai lăn oăn thành muỗi có cánh, nòng nọc thành cóc nhái, sâu bọ thành bướm, sư kiện Việt trên 2000 năm đã gọi là truyền thuyết rồi huống chi nói về việc hàng triệu năm chỉ là ảo.
Các nhà khoa học nói truyền thuyết Việt ( từ trên 2000 năm đến 6000 năm trước) là sự tưởng tượng và họ thì đại tưởng tượng hơn, vì nói về sự kiện hàng trăm triệu năm vậy mà mọi người tin ào ào lại lôi kéo được một số người nhạo bán về truyền thuyết của dân tộc Việt tôn sự đại bịp lên cao.
———————————————–
RẮN XƯA CÓ CHÂNa / Rắn xưa có chân và bị mất chân cách nay khoảng 6000 năm do bị Đức Chúa Trời rủa xả(Sáng 3: 14)
b / Hình ảnh rắn xưa chính là hình ảnh con rồng ngày nay (Khải 12: 9), gần đây các nhà khảo cổ học đă tìm thấy bộ xương rắn hóa thạch tại khu vực trung đông và rắn có bốn chân.
c / Các khoa học gia vừa phát hiện những hóa thạch của loài sinh vật kỳ quái nhất từ trước tới nay: Một con rắn bay sống vào thời khủng long có khả năng bắt cá bằng chiếc mỏ giống như một cây kéo. Đây là loài bò sát có cánh họ hàng chú bác với khủng long gọi là Pterosaur (
theo Reuters)

 

Phần diển giải:

Khi Sa tan chưa nhập vào loài rắn để dụ lòai người không nghe lời Đức Chúa Trời, thì loài rắn được Kinh thánh xếp vào lọai thú đồng

Sáng-thế Ký 3:0-1

“1 Vả, trong các loài thú đồng mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã làm nên, có con rắn là giống quỉ quyệt hơn hết. Rắn nói cùng người nữ rằng: Mà chi! Đức Chúa Trời há có phán dặn các ngươi không được phép ăn trái các cây trong vườn sao?”

Sau khi Sa tan nhập vào loài rắn để dụ lòai người không nghe lời Đức Chúa Trời thành công, thì Đức Chúa Trời hạ lòai rắn xuống thành lòai côn trùng bò bằng bụng giống như ngày nay, dù họ hàng lòai côn trùng này có thể nuốt chửng lòai súc vật, thú đồng vv

Sáng-thế Ký 3:14-15

“Giê-hô-va Đức Chúa Trời bèn phán cùng rắn rằng: Vì mầy đã làm điều như vậy, mầy sẽ bị rủa sả trong vòng các loài súc vật, các loài thú đồng, mầy sẽ bò bằng bụng và ăn bụi đất trọn cả đời.15 Ta sẽ làm cho mầy cùng người nữ, dòng dõi mầy cùng dòng dõi người nữ nghịch thù nhau. Người sẽ giày đạp đầu mầy, còn mầy sẽ cắn gót chân người.”

———————————————–

Dòng dõi khủng long tấn công dòng dõi người nữ

 

Dòng dõi người nữ phản công

 

Sáng-thế Ký 8:18-20

18 Vậy, Nô-ê cùng vợ người, các con trai và các dâu người ra khỏi tàu.

19 Các thú, rắn, chim cùng mọi vật hành động trên mặt đất tùy theo giống đều ra khỏi tàu.

Lê-vi Ký 11:42

42 Vậy, không nên ăn thịt các loài côn trùng đi bò trên mặt đất, là con nào bò bằng bụng, con nào đi bốn cẳng hay là đi nhiều cẳng, vì chúng nó là một sự gớm ghiếc.

Khám phá ngày nay về rắn có chân

Tại sao rắn không có chân?
13/02/2011 16:58
Rắn cổ đại từng có chân – Ảnh: AFP
Rắn từng có chân đầy đủ như bao loài khác, nhưng bộ phận này biến mất dần vì không thích hợp với môi trường sống.

Nếu không phải tất cả thì ít nhất một số loài rắn cũng từng có chân trong buổi ban đầu của quá trình tiến hóa. Tuy nhiên, chúng đã mất dần các chi theo thời gian, theo báo cáo mới đây của Viện Bảo tàng lịch sử tự nhiên quốc gia tại Paris (Pháp). Nghiên cứu này đã củng cố lý thuyết cho rằng loài rắn tiến hóa từ một dạng thằn lằn từng sống chui rúc trong hang trên đất liền hoặc bơi lội dưới biển, theo thông tin trên chuyên san Journal of  Vertebrate Paleontology.

Để rút ra kết luận trên, Trưởng nhóm nghiên cứu Alexandra Houssaye và đồng sự đã phân tích hóa thạch của loài rắn có tên Eupodophis descouensi. Loài rắn tiền sử này từng xuất hiện trong Kỷ Phấn trắng tại khu vực hiện nay là Lebanon. Nhằm hiểu rõ hơn mẫu vật đặc biệt, các nhà khoa học sử dụng phương pháp mô phỏng mới gọi là chụp cắt lớp trên máy tính bằng tia bức xạ synchrotron (SRCL). Đây là phương pháp giúp chụp được hàng ngàn hình ảnh 2 chiều từ bên trong mẫu. Những hình ảnh đó được tiếp tục dựng thành mô hình 3 chiều, cho thấy rõ hông của rắn và cặp chân nhỏ chỉ dài 2 cm.

Với mô hình 3 chiều mới, các chuyên gia phát hiện được Eupodophis từng sở hữu 2 chân sau mang theo dấu hiệu thoái hóa dần và không có chi trước. Chi sau cũng có đầu gối và 4 xương mắt cá chân, nhưng không có xương bàn chân hoặc xương ngón. Cũng nhờ SRCL, họ xác định được xương chân của rắn rất giống với thằn lằn hiện đại.

Nhà khoa học Houssaye cho rằng rắn đã rụng hết chân để phù hợp với cảnh chui rúc trong hang sâu hoặc bơi lội dưới đại dương. Bằng chứng là cặp chân trong mẫu hóa thạch bị thoái hóa rất nghiêm trọng và các hậu duệ của chúng chẳng còn cái chân nào. Eupodophis cũng chưa phải là loài rắn cổ nhất thế giới. “Loài rắn cổ nhất từng được con người phát hiện có niên đại cách đây từ 112 đến 94 triệu năm, và con rắn này sống cách đây khoảng 90 triệu năm”, Houssaye cho biết. Najash rionegrina, một loài rắn cũng sống cùng thời kỳ với Eupodophis được cho là có 2 chân nhỏ đằng sau. Najash đã được các chuyên gia Đại học Sao Paulo (Brazil) phát hiện tại tỉnh Rio Negro thuộc Argentina.

Hạo Nhiên

Ngày 6/2/2013

Lời tiên tri này chưa ứng nghiệm “và ăn bụi đất trọn cả đời.” và khi Sa-tan bị nhốt lại 1000 năm tức khi bảy ấn của Chiên Con kết thúc thì rắn mới ăn bụi đất trọn cả đời.